Trang

Thứ Hai, 26 tháng 6, 2017

Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động?

Công ty luật ANT Lawyers tư vấn các vấn đề về luật lao động cho người thuê lao động và người lao động, đảm bảo tuân thủ quy định của pháp luật về lao động.

Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:
  • Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
  • Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;
  • Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; cụ thể: bị người sử dụng lao động đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự hoặc cưỡng bức lao động; bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
  • Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động; cụ thể: Phải nghỉ việc để chăm sóc vợ hoặc chồng, bố đẻ, mẹ đẻ, bố vợ, mẹ vợ hoặc bố chồng, mẹ chồng, con đẻ, con nuôi bị ốm đau, tai nạn; Khi ra nước ngoài sinh sống hoặc làm việc;  Gia đình gặp khó khăn do thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, dịch bệnh hoặc chuyển chỗ ở mà người lao động đã tìm mọi biện pháp nhưng không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.
  • Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;
  • Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;
  • Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục
Thời hạn báo trước khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:
  • Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 (Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động; Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động; Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục)
  • Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2012(Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động; Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước)
  • Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều 37 Bộ luật lao động 2012 (Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;) thì thời hạn báo trước để đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo thời hạn mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền chỉ định.
Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ lao động 2012.
Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Ba, 13 tháng 6, 2017

Doanh nghiệp Việt đã làm gì để ‘xưng bá’ ở nước ngoài?

Năm 2013, Việt Nam lần đầu có đại diện trong danh sách tỷ phú thế giới. Đây có thể có là một niềm tự hào, một động lực phấn đấu đối với đông đảo các doanh nhân nhân Việt. Nhưng nhìn ra xung quanh cũng có thể thấy là các doanh nghiệp chúng ta còn quá nhỏ so với các nước trong khu vực.
Chỉ riêng khu vực Đông Nam Á đã có tới gần 70 tỷ phú; cả 5 nước Indonesia, Malaysia, Singapore, Philippines đều có ít nhất là 10 đại diện trong danh sách. Trên các bảng xếp hạng doanh nghiệp lớn của thế giới vẫn vắng bóng doanh nghiệp Việt.
Chúng ta thua kém bè bạn một phần là do nền kinh tế mới phát triển chưa lâu, quy mô của các doanh nghiệp vẫn còn rất hạn chế.
Ngoài ra, một trong những lý do khiến doanh nghiệp của Việt Nam còn bé là do việc đầu tư ra nước ngoài vẫn còn rất chậm chạp. Những doanh nghiệp có những hoạt động đáng kể ở nước ngoài có thể đếm trên đầu ngón tay như Viettel, FPT, Hoàng Anh Gia Lai, BIDV, Tập đoàn Cao su…
Trong khi đó, những ông lớn Đông Nam Á họ đã làm rất tốt điều này và đưa doanh nghiệp của họ lên tầm cỡ thế giới. CP Group của tỷ phú giàu nhất Đông Nam Á Dhanin Chearavanont là doanh nghiệp lớn nhất thế giới về sản xuất thức ăn chăn nuôi hay tỷ phú giàu nhất Malaysia Robert Kuok nắm trong tay Wilmar, hãng kinh doanh dầu cọ lớn nhất thế giới…
Trong quá trình vươn lên thành doanh nghiệp toàn cầu, các doanh nghiệp Đông Nam Á trước hết là bành trướng trong khu vực để tạo vị thế vững chắc, sau đó mới dần tiến ra các thị trường xa hơn. Điều đó lý giải cho việc vài năm qua đã có hàng loạt thương vụ M&A lớn giữa các doanh nghiệp trong khu vực như tập đoàn ThaiBev của Thái Lan thâu tóm hãng đồ uống lớn nhất Singapore Fraser&Neave.
Ngay tại Việt Nam, hàng loạt thương vụ M&A lớn trong vài năm vừa qua cũng đến từ các doanh nghiệp trong khu vực như Semen Indonesia mua lại Xi măng Thăng Long, SCG của Thái Lan mua lại Prime Group, Chandler Corp mua lại Y khoa Hoàn Mỹ và đầu tư lớn vào Masan Group hay Ayala của Philippines chi hàng trăm triệu USD vào lĩnh vực hạ tầng.
Doanh nghiệp Việt đã làm gì?
Rõ ràng, muốn trở thành một doanh nghiệp lớn thì không thể chỉ quanh quẩn ở thị trường trong nước. Hai trường hợp đầu tư ra nước ngoài từ sớm với giá trị lớn và có thể nói là thành công nhất đến lúc này có lẽ là Viettel và Hoàng Anh Gia Lai. Cả hai đều bắt đầu bằng việc đầu tư sang 2 nước láng giềng gần gũi là Lào và Campuchia.
HAGL đầu tư chủ yếu vào lĩnh vực nông nghiệp với các cây trồng như mía đường, cao su và dầu cọ. Năm ngoái, HAGL đã có vụ mía đường đầu tiên rất thành công trên đất Lào, đạt được mức tỷ suất lợi nhuận khiến các doanh nghiệp trong nước phải “thèm thuồng”. Những năm tới khi phần lớn diện tích cao su được đưa vào thu hoạch, mỗi năm bầu Đức và HAGL có thể thu về hàng triệu USD.
Sau giai đoạn đầu tư tại Lào và Campuchia, HAGL bắt vào triển khai dự án bất động sản có tổng giá trị đầu tư lên đến 440 triệu USD tại Myanmar. Bầu Đức đã âm thầm mua đất tại đây từ khi quốc gia này chưa được chú ý nhiều. Khởi công từ tháng 6/2013, giai đoạn 1 của dự án dự kiến đưa vào vận hành từ cuối năm nay.
Hiện nay, phần lớn các tài sản và hoạt động kinh doanh của HAGL đều ở nước ngoài. Theo lộ trình tái cấu trúc, tại Việt Nam, HAGL chỉ giữ lại một số dự án bất động sản cùng các diện tích trồng cao su tại Tây Nguyên.
Theo công bố từ Viettel, tổng doanh thu từ các đơn vị đầu tư ra nước ngoài của Tập đoàn này đã cán mức 1 tỷ USD trong năm vừa qua, tăng trưởng hơn 30% so với năm 2012 và đạt lợi nhuận 150 triệu USD. Hiện Viettel đã đầu tư vào các mạng viễn thông tại Lào, Campuchia, Đông Timor, Haiti, Mozambique và Cameroon.
Mới đây, Viettel đã bổ sung hơn 6.200 tỷ đồng vốn điều lệ cho Viettel Global – công ty phụ trách các hoạt động đầu tư ra nước ngoài – để đơn vị này tiếp tục đầu tư vào các thị trường mới. Quốc gia mới nhất mà Viettel dự định đầu tư là Burundi, một quốc gia Đông Phi nằm trong số những nước nghèo nhất thế giới.
Đối với một số lĩnh vực mà quy mô thị trường trong nước quá nhỏ hoặc đã bão hòa thì việc tìm nguồn thu mới ở nước ngoài là khả dĩ nhất. Chủ tịch FPT Trương Gia Bình từng nhận định “Thị trường công nghệ thông tin Việt Nam quá nhỏ bé. Một trong những định hướng chính của tập đoàn trong thời gian tới là đạt 1 tỷ USD doanh thu tại thị trường ngoại”.
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt hiện chủ yếu thực hiện qua việc đầu tư trực tiếp. Số thương vụ mua lại khá ít, với 2 thương vụ tiêu biểu là Vinamilk mua lại 70% cổ phần của Driftwood – một công ty sữa của Mỹ và Ô tô Trường Hải mua lại công ty ô tô chuyên dụng Soosung của Hàn Quốc.
Mục tiêu của Vinamilk đến năm 2017 là đạt 3 tỷ USD doanh số, gấp đôi so với hiện tại. Mua lại Driftwood, doanh thu của Vinamilk sẽ tăng thêm cả trăm triệu USD khi hợp nhất kết quả kinh doanh, tuy nhiên, công ty này lại chưa có lợi nhuận. Ngoài ra, Vinamilk cũng mới nhận được giấy phép thành lập một công ty sản xuất sữa tại thị trường Campuchia.

Hãy liên hệ ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc số điện thoại văn phòng để được tư vấn các vấn đề về đầu tư của doanh nghiệp.

Giấy phép văn phòng điều hành nhà thầu nước ngoài

Đối với nhà thầu nước ngoài, khi tiến hành thi công các công trình xây dựng tại Việt Nam, họ phải tiến hành xin giấy phép nhà thầu, sau đó, khi triển khai dự án, nhà thầu có trách nhiệm lập Văn phòng điều hành .Sau đây là các quy định cụ thể:
I. Quy định về Văn phòng điều hành
1. Sau khi được cấp giấy phép thầu, nhà thầu có trách nhiệm lập Văn phòng điều hành (hợp đồng thuê văn phòng hoặc lập văn phòng điều hành tại nơi có dự án); đăng ký địa chỉ, số điện thoại, số fax, e-mail của Văn phòng điều hành với các cơ quan quản lý các lĩnh vực này.
Đối với các hợp đồng thực hiện lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình nhà thầu có thể lập Văn phòng điều hành tại nơi đăng ký trụ sở của chủ dự án.
Đối với hợp đồng thực hiện thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng công trình đi qua nhiều tỉnh, nhà thầu có thể lập Văn phòng điều hành tại một địa phương có công trình đi qua để điều hành thực hiện công việc.
2. Sau khi thực hiện xong việc đăng ký các nội dung của Văn phòng điều hành, nhà thầu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Sở Xây dựng nơi lập văn phòng điều hành, Bộ Xây dựng và các cơ quan có liên quan. Trường hợp thay đổi các thông tin của Văn phòng điều hành, nhà thầu phải thông báo cho các cơ quan này biết.
II. Hồ sơ xin cấp Giấy phép văn phòng điều hành nhà thầu nước ngoài gồm:
1. Văn bản đề nghị xác nhận thành lập VPĐH công trình, dự án (theo mẫu);
2. Bản sao có chứng thực Giấy phép thầu do cơ quan có thẩm quyền Việt Nam cấp;
3. Quyết định hoặc Thư bổ nhiệm/ủy nhiệm hợp pháp người làm Trưởng đại diện VPĐH công trình, dự án của nhà thầu nước ngoài (bản tiếng nước ngoài và bản dịch sang tiếng Việt có chứng thực);
4. Đơn đăng ký hoạt động của Văn phòng điều hành (theo mẫu quy định);
5. Đại diện của nhà thầu nước ngoài đi làm thủ tục phải có Giấy giới thiệu của nhà thầu, kèm theo bản phôtô CMND hoặc hộ chiếu. Trường hợp tư vấn đi làm thay thì phải có Giấy ủy quyền của nhà thầu nước ngoài.
Hãy liên hệ công ty luật ANT Lawyers qua hòm thư điện tử luatsu@antlawyers.com hoặc gọi số Hotline để được tư vấn.

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017

Chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu tại Việt Nam


Nhãn hiệu là dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm dịch vụ của các tổ chức, cá nhân khác nhau vì vậy nó là tài sản có giá trị quan trọng đối với mỗi công ty. Nhiều cá nhân, tổ chức sau khi gây dựng được uy tín đối với nhãn hiệu của mình chọn phương pháp chuyển nhượng lại nhãn hiệu cho cá nhân, tổ chức khác để thu lại lợi nhuận.
Chuyển nhượng nhãn hiệu được hiểu là việc chuyển nhượng quyền sở hữu nhãn hiệu từ chủ sở hữu sang cá nhân hoặc tổ chức khác. Việc chuyển nhượng nhãn hiệu ở Việt Nam phải được lập thành văn bản có sự đồng ý của cả hai bên. Thỏa thuận miệng hoặc thư điện tử không được chấp nhận và sẽ không có giá trị pháp lý ràng buộc. Việc chuyển nhượng nhãn hiệu bắt buộc phải đăng ký với Cục sở hữu trí tuệ.
ANT Lawyers là tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận. Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cùng độ ngũ chuyên gia IP giàu kinh nghiêm, ANT lawyers sẽ hỗ trợ quý khách hàng thực hiện thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp với nhãn hiệu.
Tài liệu cần thiết:
  • Một bản gốc thực hiện của Hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu đã được ký và đóng dấu đầy đủ bởi cả hai bên người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng. Trong trường hợp Hợp đồng chuyển nhượng có từ 02 trang trở lên, cả người chuyển nhượng và người nhận chuyển nhượng phải cùng ký vào mỗi tờ giấy của hợp đồng và sử dụng con dấu của công ty để đóng dấu chéo qua tất cả các trang (KHÔNG yêu cầu phải công chứng hay hợp pháp hoá);
  • Giấy ủy quyền (POA) phải được ký bởi người đại diện của người chuyển nhượng;
  • Bản gốc tương đương Giấy chứng nhân đăng ký nhãn hiệu (nếu muốn ghi nhận việc chuyển nhượng trong đăng ký).
Thủ tục và thời gian tiến hành:
Sau khi ghi nhận việc chuyển nhượng nhãn hiệu, Cục sở hữu trí tuệ sẽ cấp các giấy tờ sau đây:
  • Thông báo ghi nhận việc chuyển nhượng trong trường hợp chuyển nhượng đơn đăng ký nhãn hiệu
  • Giấy chứng nhận đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu nhãn hiệu. Thêm vào đó, tên và địa chỉ của người chủ sở hữu mới sẽ được ghi nhân vào trang cuối cùng của Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu.
  • Cả quá trình ghi nhận việc chuyển nhượng nhãn hiệunếu không vướng mắc gì sẽ mất khoảng 02 tháng tính từ ngày nộp đơn. Tuy nhiên, trên thực tế, quá trình này có thể kéo dài từ 03-06 tháng.
Những vấn đề khác có liên quan:
Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, việc chuyển nhượng nhãn hiệu sẽ không được chấp thuận trong các trường hợp sau:
  • Đối tượng nhãn hiệu chuyển giao trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với tên thương mại của người chuyển nhượng, gây ra sự nhầm lẫn về nguồn gốc của hàng hóa hoặc dịch vụ mang nhãn hiệu với hàng hóa dịch vụ của người chuyển nhượng
  • Đối tượng nhãn hiệu chuyển giao trùng hoặc tương tự tới mức gây nhầm lẫn với các nhãn hiệu khác không phải của người chuyển giao được đăng ký với hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự, gây nhầm lẫn về nguồn gốc của hàng hóa hoặc dịch vụ.

Thứ Ba, 6 tháng 6, 2017

Ngành nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh


Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) chỉ thể hiện 4 nội dung chính: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp. Như vậy, theo quy định mới, giấy chứng nhận đăng ký đăng kinh doanh sẽ không bao gồm thông tin về ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp, mà chỉ bao gồm thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Đây được đánh giá là một trong những quy định tiến bộ của Luật doanh nghiệp, tạo điều kiện cho thương nhân phát huy quyền tự do kinh doanh một cách có hiệu quả.
Theo đó, việc bỏ hoàn toàn phần ghi ngành nghề đăng ký kinh doanh thể hiện triệt để nguyên tắc doanh nghiệp được phép kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm. Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh sẽ do doanh nghiệp chủ động theo cơ hội thị trường mà không cần phải liệt kê theo quy định của luật doanh nghiệp 2005 – cố gắng liệt kê càng nhiều càng tốt ngành nghề đăng ký để ghi vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong trường hợp này, lỗi vi phạm kinh doanh trái ngành nghề đăng ký kinh doanh mà nhiều doanh nghiệp thường gặp khi không kịp bổ sung ngành nghề đăng ký kinh doanh sẽ bị xóa sổ. Tuy nhiên, luật không nới lỏng hoàn toàn, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh những ngành, nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, đồng thời những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh mới được kinh doanh.

Thứ Hai, 5 tháng 6, 2017

Những điều Luật sư Không được Hứa


Ngày  nay,  pháp  luật đóng  vai  trò  hết  sức  quan  trọng  trong đời  sống,  góp  phần  bảo  vệ  và duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế thế giới, vai trò của pháp luật một lần nữa được khẳng định với một tầm cao mới nhằm góp phần thúc đẩy đất nước ta hội nhập một cách sâu rộng vào nền kinh tế mở của thế giới và mở ra một thời cơ mới cho những người đang hành nghề luật nói chung và Luật sư nói riêng.

Nghề Luật  sư ở Việt  Nam  là  một  nghề  cao  quý  bởi  hoạt động  nghề  nghiệp  của  Luật  sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, đồng thời góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã  hội. Chính  vì thế,  người  Luật  sư  phải  lấy  tính  chuyên  nghiệp  là  nền  tảng  cơ  bản  của nghề, luôn có trách nhiệm và bổn phận tự nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn.
Khi trợ giúp pháp lý cho khách hàng trong quá trình tranh chấp  về yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng, có những khách hàng đã yêu cầu luật sư hứa đảm bảo thắng kiện thì mới trả phí.
Là một người luật sư, người đại diện cho công chúng, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công chúng, trước hết Luật sư phải tuân thủ pháp luật, sống và làm việc theo tuân chỉ, đạo đức nghề nghiệp. Đối với sự việc trên, luật sư không thế hứa trước về kết quả vụ việc bởi lẽ kết quả sẽ phụ thuộc vào những tình tiết và căn cứ pháp lý.
Một luật sư giỏi sẽ phân tích một loạt những khả năng có thể xảy trong tranh chấp và làm  rõ  những  thông  tin  khách  hàng  cung  cấp.  Luật  sư không  nên  hứa  trước  về  kết  quả hay tỷ lệ phần trăm thành công. Việc đưa ra đánh giá trước về kết quả chỉ kiến cho khách hàng ra những quyết định thiếu chính xác trong quá trình tranh chấp.  Khi kết quả không được như khách hàng yêu cầu thì đây sẽ là một tổn thất lớn đến uy tín, hình ảnh luật sư.
Một luật sư giỏi sẽ có kỹ năng phân tích vấn đề sâu rộng, có thể nhìn vào các tình tiết vụ việc, phân tích tâm lý cá nhân và suy luận. Luật sư có thể đặt ra nhiều câu hỏi cho khách hàng và dựa trên quy định pháp luật để đưa ra được những khả năng xảy ra. Luật sư giỏi làm tất cả những điều này và nhiều hơn nữa. Nhưng luật sư vẫn không thể đảm bảo các kết quả của một vụ việc. Mỗi trường hợp là khác nhau và có quá nhiều yếu tố chưa biết, và các câu hỏi chưa được trả lời.
 Luật sư nên nói với khách hàng những gì họ đang phải đối mặt và những gì luật sự có thể làm. Tình huống tốt nhất và xấu nhất xảy ra là gì. Luật sư giỏi sẽ biết cách phân tích và làm rõ vấn đề. Cả khách hàng và luật sư cần phải có thái độ tích cực trong giải quyết vấn đề tranh chấp.
 Điều duy nhất ANT Lawyers hứa với khách hàng là sẽ tuân thủ đúng pháp luật.

Gia hạn văn phòng đại diện


Thương nhân nước ngoài  được thành lập chi nhánh, văn phòng đại diện khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, Giấy phép thành lập Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài có thời hạn 05 năm nhưng không vượt quá thời hạn còn lại của Giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy tờ có giá trị tương đương của thương nhân nước ngoài trong trường hợp pháp luật nước ngoài có quy định thời hạn Giấy đăng ký kinh doanh của thương nhân nước ngoài. Khi hết hạn mà thương nhân nước ngoài có nhu cầu tiếp tục hoạt động dưới hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh cần tiến hành các thủ tục gia hạn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chúng tôi xin tư vấn cho khách hàng thủ tục gia hạn giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh của thương nhân nước ngoài như sau:
Điều kiện gia hạn giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh:
Thương nhân nước ngoài có nhu cầu tiếp tục hoạt động tại Việt Nam dưới hình thức văn phòng đại diện, chi nhánh.
Đang hoạt động theo pháp luật của nước nơi thương nhân đó thành lập hoặc đăng ký kinh doanh
Không có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật Việt Nam liên quan đến hoạt động của Văn phòng đại diện, chi nhánh
Hồ sơ đề nghị gia hạn giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh:
Đơn đề nghị gia hạn giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh theo mẫu của Bộ Công thương do đại diện có thẩm quyền của thương nhân nước ngoài ký;
Báo cáo tài chính có kiểm toán hoặc tài liệu khác có giá trị tương đương chứng minh sự tồn tại và hoạt động thực sự của thương nhân nước ngoài trong năm tài chính gần nhất. các giấy tờ phải dịch ra tiếng Việt Nam và được cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận và thực hiện việc hợp pháp hoá lãnh sự theo qui định của pháp luật Việt Nam;
Báo cáo hoạt động của văn phòng đại diện, chi nhánh, tính đến thời điểm đề nghị gia hạn giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh;
Bản gốc giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh đã được cấp
  • Thời hạn làm thủ tục gia hạn: ít nhất là 30 ngày, trước ngày giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh hết hạn
  • Cách thức thực hiện: nộp trực tiếp tại Bộ phận tiếp nhận hồ sơ (Sở Công thương)
  • Thời hạn giải quyết: Không quá 15 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
  • Thời hạn gia hạn giấy phép của văn phòng đại diện, chi nhánh: như giấy phép thành lập văn phòng đại diện, chi nhánh
Cơ sở pháp lý: Nghị định 72/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn           phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Thông tư 11/2006/TT-BTM Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 72/2006/NĐ-CP ngày 25 tháng 7 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại về Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam
Hãy liên hệ với ANT Lawyers để được tư vấn chi tiết, theo địa chỉ Email: luatsu@antlawyers.com, hoặc số điện thoại văn phòng trong giờ hành chính.

Thứ Sáu, 2 tháng 6, 2017

Ngành nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh


Theo quy định tại Điều 29 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCNĐKDN) chỉ thể hiện 4 nội dung chính: tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp; địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp; thông tin chi tiết nhân thân của cá nhân là người đại diện theo pháp luật, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh, thành viên công ty và thông tin của thành viên tổ chức; vốn điều lệ của doanh nghiệp. Như vậy, theo quy định mới, giấy chứng nhận đăng ký đăng kinh doanh sẽ không bao gồm thông tin về ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp, mà chỉ bao gồm thông tin cơ bản về doanh nghiệp. Đây được đánh giá là một trong những quy định tiến bộ của Luật doanh nghiệp, tạo điều kiện cho thương nhân phát huy quyền tự do kinh doanh một cách có hiệu quả.
Theo đó, việc bỏ hoàn toàn phần ghi ngành nghề đăng ký kinh doanh thể hiện triệt để nguyên tắc doanh nghiệp được phép kinh doanh những ngành nghề pháp luật không cấm. Việc lựa chọn ngành nghề kinh doanh sẽ do doanh nghiệp chủ động theo cơ hội thị trường mà không cần phải liệt kê theo quy định của luật doanh nghiệp 2005 – cố gắng liệt kê càng nhiều càng tốt ngành nghề đăng ký để ghi vào giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Trong trường hợp này, lỗi vi phạm kinh doanh trái ngành nghề đăng ký kinh doanh mà nhiều doanh nghiệp thường gặp khi không kịp bổ sung ngành nghề đăng ký kinh doanh sẽ bị xóa sổ. Tuy nhiên, luật không nới lỏng hoàn toàn, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh những ngành, nghề kinh doanh mà pháp luật không cấm, đồng thời những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh mới được kinh doanh.

Điều kiện niêm yết cổ phiếu của Doanh Nghiệp hợp nhất


Công ty Luật ANT Lawyers – Công ty hợp nhất từ công ty đã niêm yết với công ty chưa niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Tp.HCM muốn niêm yết cổ phiếu sau khi hợp nhất thì Công ty chưa niêm yết trước khi hợp nhất phải đáp ứng các điều kiện sau:
+ Có ít nhất 2 năm hoạt động dưới hình thức công ty cổ phần (tính đến thời điểm công ty hợp nhất được cấp giấy phép kinh doanh);
+ ROE năm gần nhất tối thiểu là 5% và hoạt động kinh doanh của 2 năm liền trước năm hợp nhất có lãi;
+ Không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 1 năm, không có lỗ luỹ kế tính đến năm hợp nhất.
Ngoài ra công ty hợp nhất cũng phải đáp ứng điều kiện chung về niêm yết chứng khoán tại Nghị định 58/2012/NĐ-CP.
Nội dung trên được quy định tại Thông tư 73/2013/TT-BTC và có hiệu lực từ ngày 15/7/2013.
Thông tư cũng hướng dẫn thủ tục niêm yết, điều kiện niêm yết của công ty cổ phần hình thành sau hợp nhất, sáp nhập.

Thứ Năm, 1 tháng 6, 2017

Dịch vụ đăng ký quyền tác giả tại Việt Nam


Theo Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam 2005, Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu. Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là quyền của tổ chức, cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
Quyền sở hữu trí tuệ được tự động bảo hộ từ thời điểm tác phẩm được hình thành và được thể hiện trên một loại vật chất nhất định. Tuy nhiên, khi có tranh chấp xảy ra, các tác giả hoặc chủ sở hữ thường gặp nhiều khó khăn để chứng minh quyền sở hữu của mình. Vì vậy, đăng ký bảo hộ bản quyền, quyền liên quan tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là bằng chứng quan trọng nhất để tác giả, chủ sở hữu chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi có tranh chấp hoặc có hành vi xâm phạm bản quyền xảy ra.
ANT Lawyers là Công ty Luật với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cùng độ ngũ chuyên gia bản quyền giàu kinh nghiêm, chúng tôi sẽ hỗ trợ quý khách hàng thực hiện thủ tục đăng ký quyền tác giả tại Cục bản quyền tác giả.
Thành phân hồ sơ đăng ký.
Trường hợp người đăng ký là chủ sở hữu đồng thời là tác giả/ các đồng tác giả
  •  03 bản mẫu tác phẩm gốc.
  • 02 Bản sao chứng minh nhân dân của tác giả/các tác giả.
  • Tên đầy đủ, bút danh (nếu có), địa chỉ, số điện thoại, fax của tác giả/các đồng tác giả;
  • Giấy uỷ quyền của tác giả/ các tác giả;
  • Giấy cam đoan của tác giả độc lập sáng tạo tác phẩm, không vi phạm bản quyền của ai.
Trường hợp người đăng ký là chủ sở hữu nhưng không đồng thời là tác giả
  • 03 bản mẫu tác phẩm gốc;
  • 01 Giấy uỷ quyền;
  • 01 Bản sao công chứng chứng minh nhân dân của tác giả/các tác giả tác phẩm;
  • 01 Giấy chuyển nhượng quyền sở hữu tác phẩm của tác giả/ các tác giả cho chủ sở hữu tác phẩm;
  • Bản sao chứng thực giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc quyết định thành lập;
  • Giấy cam đoan của tác giả/các tác giả độc lập sáng tạo tác phẩm, không vi phạm bản quyền;
  • Các thông tin khác: bút danh của tác giả; địa chỉ; số điện thoại và fax của tác giả, chủ sở hữu tác phẩm.
Thời hạn cấp văn bằng bảo hộ
Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ, Cục Bản quyền tác giả có trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) cho người nộp hồ sơ.
Trong trường hợp từ chối thì Cục Bản quyền tác giả phải thông báo bằng văn bản cho người nộp hồ sơ.

Đăng kí bảo hộ sáng chế quốc tế theo thủ tục PCT


Việt Nam đã tham gia vào Hiệp ước bằng sáng chế (gọi tắt là PCT) từ ngày 10/3/1993 nên các doanh nghiệp, cá nhân Việt Nam có thể được cấp bằng sáng chế “quốc tế” theo Hiệp ước PCT bằng cách nộp đơn đăng ký sáng chế quốc tế tại Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam. Cục sở hữu trí tuệ sẽ có trách nhiệm kiểm tra và xử lí đơn theo quy định của Hiệp ước PCT.
ANT Lawyers là tổ chức đại diện sở hữu công nghiệp đã được Cục sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận. Với nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ cùng độ ngũ chuyên gia IP giàu kinh nghiêm, ANT lawyers sẽ hỗ trợ quý khách hàng nộphồ sơ đăng ký nhãn hiệu theo thủ tục đăng ký quốc tế PCT.
Hồ sơ Đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có nguồn gốc Việt Nam:
  • 03 bản Tờ khai đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam được làm bằng Tiếng Anh;
  • 02 bản mô tả sáng chế bao gồm cả hình vẽ (nếu có);
  • 02 bản yêu cầu bảo hộ sáng chế
  • 01 Bản gốc giấy ủy quyền;
  • Tài liệu khác liên quan (nếu có).
Trình tự thực hiện Đăng ký sáng chế theo Hiệp ước PCT có nguồn gốc Việt Nam
  • Tiếp nhận đơn: Đơn đăng ký sáng chế được nộp tại Việt Nam, trong đó yêu cầu bảo hộ tại bất kỳ nước Thành viên nào của Hiệp ước PCT, kể cả Việt Nam (gọi tắt là đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam) có thể nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện tới Cục Sở hữu trí tuệ hoặc cho Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (gọi tắt là Văn phòng quốc tế)
  • Tra cứu quốc tế: Được tiến hành tại các cơ quan tra cứu có thẩm quyền (cơ quan sáng chế quốc gia hoặc khu vực đáp ứng các yêu cầu do PCT đặt ra và được chỉ định bởi Đại hội đồng PCT). Cơ quan tra cứu đối với đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam: Cơ quan Sở hữu trí tuệ Australia, Áo, Liên bang Nga, Thuỵ Điển, Hàn Quốc và Cơ quan Sáng chế Châu Âu.
  • Công bố đơn: Đơn PCT có nguồn gốc Việt Nam được công bố trên Công báo của PCT (PCT Gazette).
  • Thẩm định sơ bộ quốc tế:  Được tiến hành tại cơ quan thẩm định sơ bộ quốc tế có thẩm quyền theo PCT. Mục đích là đưa ra ý kiến sơ bộ và không ràng buộc về sáng chế yêu cầu bảo hộ trong đơn có đáp ứng các yêu cầu bảo hộ hay không. Cơ quan thẩm định lập báo cáo thẩm định sơ bộ và gửi cho Văn phòng quốc tế.
  • Xử lý đơn trong giai đoạn quốc gia: Sau khi vào giai đoạn quốc gia, đơn quốc tế được thẩm định hình thức và thẩm định nội dung theo các thủ tục quy định đối với đơn đăng ký sáng chế thông thường tại quốc gia sở tại.
Lưu ý:
  • Trong số các nước thành viên của PCT, người nộp đơn phải chỉ rõ những nước nào họ muốn đơn xin quốc tế có hiệu lực.
  • Mỗi đơn quốc tế đều được tiến hành tra cứu quốc tế nhằm tìm ra tình trạng kĩ thuật liên quan đã biết để đưa ra kết luận sơ bộ và không mang tính bắt buộc về sáng chế yêu cầu bảo hộ có tính mới, tính sáng tạo và tính hữu ích không. Do đó, nước thành viên được chỉ định yêu cầu bảo hộ sáng chế có quyền áp dụng các tiêu chuẩn của một sáng chế theo luật quốc gia của mình có liên quan đến tình trạng kĩ thuật đã biết và các điều kiện khác về khả năng cấp bằng sáng chế để quyết định có chấp nhận cấp văn bằng bảo hộ theo yêu cầu của đơn hay không.

Lợi ích của việc bảo hộ sáng chế


Bảo hộ sáng chế là một lợi thế tốt cho chủ sở hữu sáng chế cơ hội sử dụng và khai thác sáng chế độc quyền trong thời hạn đến 20 năm theo Khoản 2 Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ “Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn”.
Hơn nữa việc bảo hộ sáng chế có thể mang lại:
  • Vị thế mạnh trên thị trường: thông qua những quyền độc quyền, người chủ sở hữu của sáng chế có quyền ngăn cấm người khác sử dụng sáng chế của mình với mục đích thương mại, qua đó có thể làm giảm cạnh tranh, tạo vị thế tốt hơn cho doanh nghiệp sở hữu những độc quyền sáng chế đó.
  • Cơ hội bán hay li- xăng sáng chế: Nếu không thể tự khai thác sáng chế mà mình tạo ra bạn có thể bán hay li- xăng sáng chế của mình ( hợp đồng chuyển quyền sử dụng sáng chế) cho công ty khác. Biện pháp này không những tiết kiệm được tiền đầu tư thương mại hóa sáng chế thành sản phẩm, mà còn thu được phí li- xăng và tránh được những rủi ro khi cạnh tranh trên thị trường.
  • Khi sáng chế của bạn được thương mại hóa thành công và có chỗ đứng đáng kể trên thị trường thì các doanh nghiệp khác sẽ tìm cách để sản xuất ra các sản phẩm tương tự, gây nhầm lẫn cho khách hàng và điều đó sẽ ảnh hưởng lớn đến thị phần của doanh nghiệp bạn. Nếu sáng chế không  đăng ký bảo hộ trước tại các cơ quan có thẩm quyền, đối thủ cạnh tranh sẽ sử dụng các sáng chế một mà không vi phạm quy định pháp luật.
Từ những phân tích trên đây đã giải thích lý do vì sao một doanh nghiệp cần bảo hộ sáng chế của mình, trước khi bị đối thủ cạnh tranh cướp mất cơ hội đăng ký, hay bị cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường.